KIỆN NGƯỜI THÂN ĐỂ ĐE LAO ĐỘNG BỎ TRỐN

Nạn lao động bỏ trốn ngày càng tăng đang làm đau đầu các cơ quan quản lý, cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu lao động (XKLĐ). Nhiều doanh nghiệp XKLĐ đã phải dành cả tháng trời để đến các địa phương xác minh, nhằm khởi kiện người lao động “lật kèo”.


Lao động của Công ty cổ phần SIMCO Sông Đà được luật sư tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật trước khi ra nước ngoài làm việc

Từ bỏ quyền lợi do thiếu hiểu biết

Luật người lao động (NLĐ) Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định, NLĐ khi tham gia vào hoạt động XKLĐ hợp pháp sẽ được bảo vệ quyền lợi như: được cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp phù hợp pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận NLĐ; được tư vấn, hỗ trợ để thực hiện các quyền và hưởng các lợi ích trong hợp đồng lao động đã ký với doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam và chủ sử dụng lao động (SDLĐ). Đồng thời, được doanh nghiệp XKLĐ cung cấp các thông tin về chính sách, pháp luật của Việt Nam về NLĐ đi làm việc ở nước ngoài; phong tục, tập quán của nước tiếp nhận, quyền và nghĩa vụ của các bên để NLĐ biết thực hiện, chấp hành. Đặc biệt, doanh nghiệp XKLĐ có trách nhiệm phối hợp chủ SDLĐ nước ngoài giải quyết các vấn đề phát sinh khi NLĐ chết, bị tai nạn lao động, tai nạn rủi ro, bệnh nghề nghiệp, bị xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và giải quyết tranh chấp liên quan đến NLĐ.

Mặc dù pháp luật đã quy định đầy đủ như vậy, nhưng việc NLĐ có nắm bắt được hay không lại là chuyện khác. Theo luật sư Ngọc Hà (Trưởng Văn phòng luật sư Đa Phúc, Đoàn luật sư Hà Nội), người có nhiều kinh nghiệm trong tư vấn, giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực XKLĐ thì không phải doanh nghiệp XKLĐ nào cũng nhận thức và làm đúng trách nhiệm phổ biến kiến thức pháp luật liên quan cho NLĐ trước khi xuất cảnh. Bởi vậy, tình trạng NLĐ chấm dứt hợp đồng do thiếu hiểu biết, thiếu thông tin vẫn cứ diễn ra, gây hậu quả cho chính bản thân NLĐ, người bảo lãnh và cả doanh nghiệp XKLĐ. Thường một thời gian ngắn sau khi ra nước ngoài làm việc, lao động bị dụ dỗ đã tùy tiện phá bỏ hợp đồng, trốn ra khỏi nơi làm việc đi tìm việc mới. Đây đang là vấn nạn làm đau đầu các cơ quan quản lý cũng như doanh nghiệp XKLĐ. Thị trường tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam nhất là Đài Loan cũng là nơi số lao động bỏ trốn nhiều nhất (trung bình mỗi tháng có khoảng 600 người).

Sau khi bỏ trốn, NLĐ trở thành người cư trú và làm việc bất hợp pháp nên cuộc sống đầy rủi ro, phải sống chui lủi và có thể bị cảnh sát truy bắt, bị cơ quan chức năng xử phạt và trục xuất về nước bất cứ lúc nào. Họ cũng phải tự trang trải nếu có ốm đau, bệnh tật hay tai nạn lao động, không được hưởng các quyền lợi về bảo hiểm và y tế như lao động hợp pháp. Đã có không ít lao động bỏ trốn bị nhiều cô dâu người Việt tại Đài Loan lôi kéo, các đối tượng “bảo kê” vòi tiền, hăm dọa báo cảnh sát bắt giữ. Trước những rủi ro, bất trắc đó, nhiều lao động chán nản sống mất định hướng, “bập” vào tệ nạn xã hội. Không chỉ vậy, họ sẽ còn bị phạt từ 80 đến 100 triệu đồng, trục xuất về nước, cấm đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn theo quy định tại Điều 35 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài.

Bản thân doanh nghiệp XKLĐ cũng lao đao sau mỗi sự cố lao động bỏ trốn. Do hoạt động sản xuất bị gián đoạn, phải bỏ thêm thời gian, chi phí để tuyển lao động mới thay thế nên chủ SDLĐ lập tức quay sang phạt doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam, yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng tiền và cắt chỉ tiêu tiếp nhận lao động những đợt tiếp theo.

Nhiều giải pháp chống trốn

Để chấm dứt thực trạng NLĐ bỏ trốn ra ngoài cư trú và làm việc bất hợp pháp đang có xu hướng gia tăng, các doanh nghiệp XKLĐ áp dụng nhiều biện pháp “nóng” như thu tiền đặt cọc chống trốn, yêu cầu thế chấp tài sản, thế chấp quyền sử dụng đất, tạm giữ tiền lương của NLĐ... tuy nhiên vẫn chưa phải là giải pháp hữu hiệu. Theo ông Ngô Quang Hải, Giám đốc Trung tâm xuất khẩu lao động số 1 (thuộc Công ty cổ phần SIMCO Sông Đà) cùng với phổ biến kỹ lưỡng kiến thức pháp luật cho lao động trước khi đi cần song hành biện pháp mạnh khởi kiện ra tòa án đối với NLĐ bỏ trốn, khởi kiện người bảo lãnh cho lao động bỏ trốn để yêu cầu phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp mới có tác dụng răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật lao động của công dân đi lao động nước ngoài. Người bảo lãnh (thường là bố mẹ, anh chị hoặc người thân...) là người cam kết chịu trách nhiệm bồi thường các thiệt hại cho doanh nghiệp khi lao động bỏ trốn.

Đưa ra giải pháp đó bởi ông Hải đã nhiều lần về tận gia đình NLĐ ở các tỉnh, thành phố như Hải Dương, Hải Phòng, Hà Tĩnh gặp người thân của lao động tìm hiểu, nhận ra rằng, nguyên nhân chính lao động bỏ trốn là do họ và cả người nhà không nắm được các quy định pháp luật lao động của Việt Nam và nước tiếp nhận lao động nên luôn hành động theo cảm tính, nghĩ bỏ việc là quyền của mình, không bị xử phạt gì. Người bảo lãnh ngơ ngác với trách nhiệm liên đới bồi thường của mình khi lao động bỏ trốn dù đã cam kết bảo lãnh. Do đó, khởi kiện cũng là cách để người dân nâng cao hiểu biết, có trách nhiệm hơn với các cam kết của mình. Được biết, sau nhiều tháng cùng luật sư lặn lội đi các tỉnh kiện đòi bồi thường, số lao động bỏ trốn của Trung tâm xuất khẩu lao động số 1 giảm hẳn do người dân hiểu và răn đe con em mình. Ngày 1-8-2013, TAND tỉnh Hải Dương đã tuyên buộc chị gái của lao động Đỗ Văn Hải (xã Hoàng Tân, huyện Chí Linh) phải bồi thường cho Cty CP SIMCO Sông Đà 90 triệu đồng do lao động bỏ trốn. Hay như vụ ông Phạm Văn Pha (xã Thanh Hải, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương) phải bồi thường 84 triệu đồng do NLĐ mình bảo lãnh bỏ trốn. Gần đây nhất, Trung tâm khởi kiện lao động Nguyễn Thị Gia Ly ở Hà Tĩnh được công ty ký hợp đồng đưa sang Cao Hùng (Đài Loan) làm việc tại Nhà máy chế biến thực phẩm Nguyên Thịnh, mới được hơn hai tháng đã bỏ trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp. TAND tỉnh Hà Tĩnh xử buộc người bảo lãnh của lao động này có trách nhiệm bồi thường cho Công ty cổ phần SIMCO Sông Đà 100 triệu đồng để doanh nghiệp khắc phục những thiệt hại phát sinh do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng của Ly gây ra.

Luật sư Ngọc Hà đề cập, bên cạnh việc các doanh nghiệp XKLĐ phải chủ động, tích cực trong công tác xử lý vi phạm đối với NLĐ có hành vi phá vỡ hợp đồng thì các cơ quan Nhà nước quản lý lao động và doanh nghiệp XKLĐ cần xây dựng phương án và các giải pháp cụ thể trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các kiến thức pháp luật về lao động cho đối tượng là NLĐ và người bảo lãnh cho lao động. Thậm chí có thể lập danh sách niêm yết công khai tên tuổi địa chỉ của người bảo lãnh vi phạm, NLĐ bỏ trốn tại trụ sở địa bàn cấp phường, xã nơi có công dân vi phạm nhằm cảnh báo, giáo dục, phòng ngừa vi phạm. Qua công tác giáo dục định hướng và tuyên truyền pháp luật nói trên, NLĐ và người bảo lãnh sẽ hiểu rõ về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình khi tham gia vào thị trường XKLĐ, thấy trước được hậu quả pháp lý và thiệt hại kinh tế người thân phải gánh chịu nếu vi phạm hợp đồng đã ký với doanh nghiệp XKLĐ và chủ SDLĐ. Khi phần lớn NLĐ tự hình thành được ý thức chấp hành pháp luật về lao động, khi không còn hiện tượng lao động bỏ trốn, gây mất trật tự an toàn xã hội tại nước ngoài thì thương hiệu lao động Việt mới có cơ hội được khẳng định trên thị trường lao động quốc tế.

Hà Linh - Nhân dân